Ngày cuối tuần, chúng tôi quyết định làm chuyến “offline” Bắc Hà đúng vào phiên chợ văn hoá vùng cao. Sau gần 2 tiếng đồng hồ, bỏ lại sau lưng phố xá và khói bụi của xe hơi, của những thanh âm thị thành, chúng tôi đã đi giữa mùi thơm của rơm phơi vừa gặt, của mùi khói đốt đồng, của màu xanh ngút mắt của rừng xanh. Lòng chợt nhẹ bẫng, xốn xang... Bắc Hà một sáng lạnh se se luồn tay áo. Xe bon bon êm ru vào cua, về số, rú ga... để rồi chúng tôi cũng đặt chân lên vùng đất của bạt ngàn sa mộc, của những đồi mận Tam Hoa vào mùa trắng xóa, của những con người “như chén rượu nồng say”...
Chạm ngõ thị trấn, chúng tôi dừng lại nạp năng lượng, trước khi vào chợ phiên. Có lẽ mọi người vẫn quan niệm rằng món phở gắn liền với danh từ “phở Hà Nội”, hay “phở bò Nam Định” mới là món trứ danh thứ thiệt. Nhưng nếu đến Bắc Hà mà chưa ăn món phở gà chặt miếng thì dường như vẫn còn chưa biết đến Bắc Hà nhiều. Bởi vậy nên lần nào vào đây, tôi cũng phải lên kế hoạch cho bằng được để thưởng thức một bát phở gà chặt miếng. Sợi phở ở đây được bà con tự tráng và thái to bản chứ không như sợi phở cán bằng máy hiện đại như bây giờ. Những con gà được đặt mua trong bản chặt thành miếng chứ không xé phay như các quán phở ở phố vẫn làm. Thế nên bát phở gà chặt miếng ở Bắc Hà rất ngon… Bên cạnh những đặc sản của phố núi Bắc Hà, những món ăn của người vùng cao thì món phở gà chặt miếng cũng là nét riêng của vùng cao Bắc Hà.
 |
Các thiếu nữ vui đùa dưới rừng hoa mận trắng. Ảnh: Ngọc Bằng
|
Thế là ấm bụng. Và từ đây, chúng tôi cứ thế trôi theo dòng người đủ váy áo sặc sỡ, đủ thứ hàng hoá lúc nào không hay. Lạc giữ cơ man nào váy thổ cẩm. Chen giữa dòng người đến chợ, chúng tôi len lỏi để tìm những khuôn hình cho khoảnh khắc bấm máy... nhưng vẫn thật khó vì chợ quá đông. Mấy người bán hàng lâu năm ở chợ văn hoá Bắc Hà bảo rằng chợ phiên hôm nay đông hơn tuần trước. Chả là, bà con vừa thu hoạch xong. Thời gian này tha hồ đi chơi chợ đi mua sắm, nên chợ phiên tuần này mới đông như vậy. Len lách mãi chúng tôi cũng vào đến khu ẩm thực. Này là chảo thắng cố trên bếp đang sôi ùng ục, bốc khói nghi ngút, này là nồi canh thịt lợn đen thơm lựng mùi của gừng nướng, của thảo quả và lá chanh. Những bát bánh đúc ngô vàng trong như thạch. Những bát bánh phở tráng và những bát rượu ngô cứ nâng lên đặt xuống... của tình bằng hữu, của những người đàn ông vùng cao “gặp nhau chỉ để uống rượu”. Những đứa trẻ theo mẹ xuống chợ thì tụm lại một chỗ hào hứng với chiếc kem mút trông rất mãn nguyện. Ở góc chợ, hàng kem mút vẫn một thùng xốp với cái kèn tự chế bằng chiếc vỏ chai “nước rửa chén sunlight” cứ réo rắt: Toe Tút! Toe Tút!
Vốn dĩ, những phiên chợ thu hút nhiều khách du lịch thường bị thương mại hoá như quan niệm của nhiều người. Nhưng ở Bắc Hà, điều dễ dàng nhận thấy rằng, đối lập giữa đông đúc của khu bán hàng váy áo thổ cẩm của đồng bào là sự tẻ nhạt của khu kinh doanh của những sản phẩm thổ cẩm công nghiệp. Khách đến chợ vẫn thu hút hơn cả là cảnh bán mua của đồng bào vùng cao chứ không phải đến để mua vài cái túi thổ cẩm, vài cái khăn dệt cách điệu... Tôi dám chắc rằng ai đến chợ cũng đều muốn tìm mua những sản vật núi rừng như gà đen, thịt lợn bản và những mớ rau tươi non không có chất hoá học được gùi từ trên những đỉnh núi mù sương xuống chợ. Thú vị nhất là khu bán những con vật nuôi. Nhìn một người đàn ông Mông tay dắt một con lợn đen. Tôi đánh bạo hỏi mua: Có bán lợn không?. Anh trả lời: Bán đấy, mua đi. Tôi hỏi: Bán bao nhiêu. Anh ta lại trả lời bằng tiếng Kinh vẫn còn chưa sõi: 700 nghìn con này, 19 cân đấy. Tôi bèn hỏi tiếp: Thế bán bao nhiêu tiền một cân. Anh ta nói ngay: 45 nghìn một cân... Chúng tôi phá lên cười rất to: 45 nghìn một cân, chỉ nhẩm nhanh thiếu 45 nghìn nữa là đầy 900 nghìn. Vậy mà bán chỉ có 700 nghìn? Chị đồng nghiệp ngã giá: 35nghìn 1 cân có bán không? Anh ta trả lời dõng dạc: Không bán đâu, 45 nghìn mới bán. Con này 19 cân, 700 nghìn đồng đấy!...Chị đồng nghiệp bảo: cái anh này, chúng tôi hỏi cho vui thôi. Không mua đâu. Và lúc tạm biệt anh bán lợn cắp nách, chị đồng nghiệp vẫn cứ dặn đi dặn lại rằng: Nếu bán 45 nghìn 1 cân thì con này anh phải bán 855 nghìn nhé!. Câu chuyện của người bán lợn làm chúng tôi vui suốt dọc đường về...
Rời khu bán vật nuôi, chúng tôi bị cuốn hút bởi những âm thanh lạ tai phát ra từ một nhóm người đàn ông đang túm tụm vòng tròn ở một góc chợ. Tiến lại gần chúng tôi thấy hai người ngồi giữa đám đông ấy đang say sưa trổ tài biểu diễn với chiếc kèn gỗ. Tôi lân la làm quen với một đàn ông trung niên. Ông ấy giới thiệu tên là Cáo Chúng Lìn, người Mông ở xã Cốc Ly. Rồi khi thấy chúng tôi có vẻ tò mò về chiếc kèn gỗ, ông Lìn giới làm “phiên dịch” cho chúng tôi bằng tiếng Kinh: Kèn của người Mông dùng để thổi trong những dịp tang ma hay đám cưới đều được. Kèn làm từ gỗ cây sung đấy!. Tôi đánh bạo cầm một chiếc lên thổi. Chiếc kèn nhẹ bẫng phát ra âm thanh... Trên thân kèn có 7 lỗ được khoan tròn như trên cây sáo trúc. Trong lúc chúng tôi đang thoả trí tìm hiểu về chiếc kèn, hai người đàn ông vẫn cứ say sưa biểu diễn như không hề có sự hiện diện của những người lạ là chúng tôi vậy. Một người khác trong nhóm giải thích: Họ mua về rồi, bây giờ họ thổi đấy! Thì ra không phải thổi để chào hàng như chúng tôi nghĩ mà là thổi để “thể hiện”, để thử kèn vậy thôi... Mãi chúng tôi mới dứt ra khỏi đám người đàn ông thổi kèn gỗ ấy.
Hai bên hàng lanh lối lên xuống là những người bán chổi, bán gùi, bán yên ngựa, bán đồ đan lát từ tre nứa. Chổi ở đây là thứ chổi không phải cây chít mà làm từ cây... Rồi chúng tôi đi qua dãy bán hương. Hương cũng là một sản phẩm truyền thống của đồng bào Mông hoa ở vùng cao Bắc Hà. Không bọc dán nhãn mác, không túi ni lông như hương bán thông thường. Hương của người Mông cứ để trần từng bó, mỗi cây hương to như chiếc đũa vậy. Nghề làm hương cũng là một nghề truyền thống của người Mông đấy - Anh bạn cùng đi nói vậy! Nghe thấy mọi người bảo: Người Mông làm hương cũng độc đáo lắm... Phía ngoài cổng chợ, hàng cốm mới thơm lừng thành dãy dài. Vừa gặt xong vụ mùa nên cốm bán rất nhiều. Đặc biệt, chợ Bắc Hà còn bán “khẩu rang”- thứ gạo dùng để nấu xôi, hạt gạo to như hạt bỏng. Người bản địa thì gọi đó là “cốm già”... rất ngon.
Đến trưa, định bụng sẽ vào chợ làm một chầu thắng cố và thử say với thứ tinh tuý mà mọi người vẫn nói một cách hoa mỹ là “vắt ra từ trời đất” ấy xem thế nào. Nhưng rồi, không nỡ chối từ lời mời mọc, chúng tôi đã khoanh chân tại một nhà hàng nổi tiếng món phở chua Bắc Hà. Thứ phở chúng tôi ăn là bánh phở tráng màu hồng, dẻo quánh. Bát nước chấm được pha chế từ nước chua, dưa cải muối, rau xà lách thái nhỏ, trộn ít lạc rang giã vụn. Khi ăn mới trộn ít muối trắng vào. Thoạt nhìn, tôi nghĩ món ăn lạ lùng này, liệu mình có ăn nổi không. Vì tôi chưa ăn thế bao giờ. Ấy vậy mà, càng ăn, tôi càng bị cuốn hút bởi món ăn rất đơn giản và độc đáo này. Không chỉ có vậy, chúng tôi còn được gia chủ đãi món thịt trâu sấy xào, lòng ngựa xào khế... toàn những món thết khách của người vùng cao. Giữa cái lạnh của vùng cao mà anh bạn trong đoàn mồ hôi cứ vã ra như tắm. Thì ra, nhìn vào bát phở chua của anh bạn này đầy những tương ớt, một thứ đặc sản ớt ngâm của người bản địa. Chúng tôi cứ nâng hết chén này đến chén khác trong ngây ngất men say của hương rượu Bản Phố chưng cất từ ngô nếp nương và men lá hồng mi trên núi đá…